0353.247.247

Hotline bán hàng

Mua hàng

Thời gian 8:00 - 21:00

CÂU ĐỐI - CUỐN THƯ - ĐẠI TỰ

Nguồn gốc của câu đối

Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Câu đối có có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi là đối liên nhưng tên gọi xưa của nó là đào phú. 

Câu đối
Câu đối gồm hai vế đối nhau, nó có nguồn gốc từ Trung Quốc

Người Trung Quốc quan niệm: “Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”. Đối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm. Tuy nhiên, theo "Tống sử Thục thế gia", câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959:

"Tân niên nạp dư khánh"

Gia tiết hiệu trường xuân"

Dịch thơ:

"Năm mới thừa chuyện vui

Tiết đẹp xuân còn mãi".

Ý nghĩa của câu đối

Câu đối trong trong không gian thờ cúng như phòng thờ gia tiên, đình chùa miếu mạo mang lại cho gia chủ cảm giác an lạc cùng đó là thể hiện được tâm tư nguyện vọng của gia chủ muốn cuộc sống an khang thịnh vượng con cháu học hành hanh thông làm ăn phát đạt. Câu đối thường được gắn ở hai cột phía trước bàn thờ hoặc trên tường treo mỗi bên một câu. Cũng như hoành phi, ngoài mục đích tăng tính thẩm mỹ cho không gian thờ cúng thì câu đối còn ghi lại những lời răn dạy về giá trị đạo đức truyền thống của tổ tiên. Đồng thời, ca ngợi công đức của dòng họ, gia tộc hoặc cầu mong thái bình, thịnh vượng.

Câu đối thể hiện tâm tư, nguyện vọng của gia chủ

Nguyên tắc của câu đối

Đối ý và đối chữ

  • Đối ý: Hai ý đối phải cân nhau và đặt thành hai câu sóng nhau.
  • Đối chữ: Xét hai phương diện thanh và loại. Về thanh: Thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại. Về loại: Thực tự phải đối với thực tự; Hư tự phải đối với hư tự; Danh từ phải đối với danh từ; Động từ phải đối với động từ. Nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho.

Vế câu đối

  • Một câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra và một người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.
  • Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải là thanh trắc. Chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.

Số chữ và các thể câu đối

Số chữ trong câu đối không nhất định. Theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

  • Câu đối tiểu: Là những câu có 4 chữ trở xuống.
  • Câu đối thơ: Là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
  • Câu đối phú: Là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, bao gồm:
  • Lối câu song quan: Là những câu có từ 6 đến 9 chữ và được đặt thành một đoạn liền.
  • Câu cách cú: Là những câu mà mỗi vế được chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn và một đoạn dài.
  • Lối câu gối hạc hay hạc tất: Là những câu mà mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

Luật bằng trắc

  • Vế phải: Trắc - trắc - trắc
  • Vế trái: Bằng - bằng - bằng.
Câu đối bằng gỗ Gụ

Phân loại câu đối

  • Câu đối chữ nhật loại thường
  • Câu đối lá lật
  • Câu đối dạng quả bầu
  • Câu đối bán nguyệt, kiểu lòng máng ốp cột
  • Câu đối có bo khung viền.